BỆNH ĐỐM TRẮNG TRÊN TÔM (WHITE SPOT DISEASE – WSD)

08/04/2019 | 594 |
0 Đánh giá

BỆNH ĐỐM TRẮNG TRÊN TÔM (WHITE SPOT DISEASE – WSD)


Bệnh đốm trắng (WSD) là một trong những bệnh virus quan trọng nhất đối với nghề nuôi tôm biển, gây ra nhiều thiệt hại kinh tế cho người nuôi. Năm 1992 bệnh đốm trắng gây thiệt hại nghiêm trọng cho các trang trại trang trại nuôi tôm ở Đài Loan đầu tiên là Đài Bắc và sau đó ở các tỉnh ở Trung Quốc là Phúc Châu và Quảng Châu.  Đến năm 1994, hội chứng đã lan rộng do nhập khẩu tôm đến miền nam Nhật Bản, qua Thái Lan, vào Indonesia và xa về phía tây như bờ biển Ấn Độ. Một năm sau, căn bệnh này tràn qua Thái Bình Dương và 3 năm sau đó nó đã lan rộng khắp các trang trại quy mô nhỏ ở miền Bắc Mỹ. Đến cuối năm 1998 đầu năm 1999 bệnh bắt đầu tàn phá các vùng nuôi tôm ở Nam Mỹ, đầu tiên ở Ecuador, rồi Peru.  Năm 2002, WSD đã được phát hiện ở Trung Đông điển hình Iran. Trong vòng chưa đầy mười năm, bệnh này đã xuất hiện và lan rộng ra toàn cầu, tạo ra thiệt hại kinh tế lớn nhất hơn cả một số bệnh như TSD và YHD. 


Tác nhân gây bệnh 
Tác nhân gây bệnh của bệnh đốm trắng virus WSSV - WHITE SPOT SYNDROME VIRUS là một loại virus DNA sợi kép, có màng bao bọc. WSSV được Ủy ban quốc tế về phân loại virus (ICTV) xác định thuộc chi Whispovirus trong họ Nimaviridae. Virion của WSSV có hình dạng giống hình trứng hoặc hình elip, đường kính 120 - 150 nm và chiều dài 270 - 290 nm. Một phần mở rộng giống như đuôi (phần phụ) có thể được quan sát ở một đầu của virion. WSSV có thể tồn tại tự do ít nhất 30 ngày ở 30 ° C trong nước biển trong điều kiện phòng thí nghiệm và trong ao ít nhất 3 ngày 4. Bị bất hoạt trong  <120 phút ở 50 °C và <1 phút ở 60 °C. Tỷ lệ nhiễm WSSV rất khác nhau, từ <1% trong các ao ngoài tự nhiên cho đến 100% ở các ao nuôi. 

Phổ loài cảm nhiễm: WSSV có phổ loài cảm nhiễm rất rộng bao gồm các giáp xác thuộc bộ mười chân như tôm biển, tôm hùm và cua.
Con đường lây truyền bệnh:
Một số vật chủ truyền bệnh WSSV như động vật hai mảnh vỏ, giun nhiều tơ, Copepod, một số loài chân khớp như Isopoda có thể tích lũy WSSV ở mật độ cao mà không biểu hiện bệnh. 
WSSV có thể lây từ tôm mẹ sang tôm con, lây từ nguồn nước, do tôm ăn nhau hay ăn những loài giáp xác khác. WSSV cũng tồn tại trong các mẫu thức ăn tươi sống như mực, ốc mượn hồn, giun nhiều tơ và tôm tít. 

 

Hình 1: Cấu trúc virus WSSV


Dấu hiệu bệnh lý:   
Tôm nhiễm bệnh hiển thị các dấu hiệu lâm sàng như: Tôm có nhiều đốm trắng khoảng 0,5 – 3mm xuất hiện bên trong vỏ, nhất là vỏ đầu ngực và đốt bụng thứ 5 và thứ 6 sau đó lan ra khắp cơ thể tôm. Tôm bị nhiễm bệnh hơi lờ đờ, nổi lên mặt hay bám vào bờ ao. Phụ bộ bị gãy hoặc mất. Tôm giảm ăn. Bệnh xuất hiện ở tất cả các giai đoạn phát triển của tôm, nhưng tỉ lệ chết cao nhất thường xuất hiện từ 1–2 tháng sau thả giống, khi môi trường nuôi xấu đi và nhất là khi độ mặn thay đổi, nhiệt độ nước giảm thấp (khoảng từ 23-28C), tỉ lệ tôm chết có thể lên đến 80-100% trong vòng 5-10 ngày nhiễm WSSV .

 

 

  
Hình 2: Đốm trắng trên giáp đầu ngực của tôm


Kiểm soát và phòng ngừa: 
-    Chọn tôm giống tốt và không nhiễm bệnh đốm trắng 
-    Loại bỏ tôm bệnh 
-    Tẩy trùng ao ương nuôi và kênh cấp thoát nước thật triệt để 
-    Xử lý nước kỹ trước khi nuôi bằng chlorine 25ppm. Hạn chế thay nước trong khi nuôi và xử lý nước thải bằng chlorine. 
Một số nghiên cứu cho thấy rằng tiêm virus WSSV đã bất hoạt hoặc protein cấu trúc tái tổ hợp (VP28), đã cung cấp cho tôm một số biện pháp bảo vệ chống  cảm nhiễm WSSV. Hơn nữa, tôm được nuôi bằng thức ăn viên được phủ vi khuẩn bất hoạt biểu hiện VP28 cho thấy tỷ lệ sống tốt hơn sau khi cảm nhiễm WSSV. Tuy nhiên, mặc dù những kết quả này có vẻ đầy hứa hẹn tuy nhiên việc bảo vệ chỉ có hiệu quả khi tôm bị nhiễm WSSV với liều lượng thấp. Ngoài ra, hiệu quả thường chỉ kéo dài trong một vài ngày, hoặc trong trường hợp tôm càng kéo dài trong khoảng 20 ngày. 
Một phương tiện tiềm năng khác để bảo vệ tôm chống lại nhiễm WSSV là sử dụng RNAi (RNA can thiệp). Các sợi kép (DSRNA) đặc hiệu gen WSSV tạo ra hoạt động chống WSSV mạnh mẽ, bảo vệ tôm chống lại cảm nhiễm WSSV, nhưng nghiên cứu tương tự cho thấy rằng DSRNA dài gây ra cả phản ứng chống virus phụ thuộc trình tự và phụ thuộc vào tôm. 
Một nghiên cứu gần đây hơn cho thấy rằng ngay cả việc sử dụng VP28 DSRNA được biểu hiện bằng vi khuẩn cũng có thể bảo vệ tôm chống lại nhiễm WSSV.  Tuy nhiên, mặc dù công nghệ DSRNA vẫn tiếp tục được khám phá, vẫn chưa có dữ liệu thử nghiệm thực địa cho phương pháp tiêm chủng hoặc phương pháp RNAi.

Bộ phận kỹ thuật CÔNG TY TNHH TM XNK MỸ BÌNH


(*) Xem thêm:

Bình luận